Đại học Quốc tế Hồng Bàng > Bài viết của P.GS TS.NMH > Văn hóa học
- Thử tìm hiểu nguyên nhân cái chết lâm sàng của môn Lịch sử trong học đường.
Xem chi tiết
- Phương pháp DECROLY.
Xem chi tiết
ÐẶC TÍNH CỦA LOẠI HỌC ÐƯỜNG MỚI
TS.Sử học Nguyễn Mạnh Hùng
Hiệu trưởng Ðại học Hồng Bàng
LTS : Gần đây - Những người hoạt động trong ngành giáo dục - đã quan tâm đến một
học đường mới nhằm thay đổi phương pháp giảng dạy và học tập mang tính linh hoạt
- từ chối loại đào tạo mang tính từ chương (học thuộc lòng theo kinh sách.) nhằm
xây dựng một nền giáo dục mới phá bỏ các loại cấu trúc "kín cổng cao tường" như
các tu viện, các nhà kín. Ðể hiểu rõ vấn đề này, chúng tôi xin giới thiệu bài
viết của Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Hùng, người hết sức quan tâm về lịch sử giáo dục VN
và thế giới., đặc biệt tập trung tìm hiểu qua sách báo về đặc tính của loại học
đường mới mang tính linh hoạt này trong lộ trình bước vào W.T.O.
Nền giáo dục cổ điển đã bộc lộ khuyết điểm - những nhà sư phạm đã suy tư đến một
lộ trình giáo dục khác. Ðó là những năm 1922, Adolphe Ferrière để đưa ra một
quan niệm mới qua quyển sách tựa đề "Học đường linh hoạt" (école active) gồm 2
tập, hay còn có cách gọi khác học đường mới (école nouvelle) hay giáo dục mới
(éducation nouvelle).
Thật ra khái niệm này không có gì mới về mặt phương pháp vì nó vẫn duy trì lối
quy nạp, suy luận và trực giác. Nhưng điều mới là người học không còn phải chỉ
là người ngồi nghe như thính giả ở giáo đường hay hí viện, hay người giữ vị trí
khách quan như người ngồi nghe phán quyết của quan toà. Ðiều mới này xây dựng
trên 3 nguyên tắc:
- Một là khêu gợi sự hứng thú trong học tập bằng cách khảo sát thực tế để phát
hiện chân lý
- Hai là khêu gợi ý sáng tạo tìm tòi cái mới.
- Ba là thúc đẩy tính tự học để nâng cao kiến thức ngoài kiến thức truyền đạt
của thầy.
Các đặc tính nêu trên những nhà cải cách cho rằng sẽ rèn luyện cho người học sau
này dù một mình ngồi một nơi mà cũng có thể vận động suy nghĩ, khảo sát và xét
đoán những việc xảy ra nơi khác, hoàn cảnh khác. Dù nằm trong chốn thảo lư, Gia
Cát Lượng cũng đã thấy bức tranh xã hội Trung hoa thời đó - tất phải có thế cân
bằng chân vạc để cân đối nền tảng chính trị - tức là phải có 3 nhà chính trị cai
trị đất nước.Ðối với trẻ, nhà sư phạm phân biệt được lúc nào cần hoạt động chân
tay hay hoạt động trí não hoặc lúc nào cần được tự do. Aldolphe Ferrière cho
rằng: sự sinh trưởng tinh thần của trẻ con tiến tới nhanh chóng mà không theo
nhịp độ tiệm tiến. Ông phân chia ra các thời kỳ tâm lý:
      1. Theo cảm giác (tuổi từ sơ sinh đến 6)
      2. Theo mô phỏng (từ 7 đến 12)
      3. Theo trực giác (13-18)4.
      4.Cần suy nghĩ và phán đoán (19-24).
Tuy nhiên, tuỳ trình độ thông minh, tuỳ môi trường hoàn cảnh xã hội và ở lứa
tuổi trước 18 cần hoạt động thể chất, đến khi lớn hơn cần hoạt động tinh thần.
August Comte cũng nêu lên khái niệm về "tam biến luận" tức là trải qua 3 trạng
thái như sau:
      1. Thần thoại (état théologique) tức tưởng tượng ra các vật dụng đều có tính
tình và cử chỉ như con người. Do đó khi vấp phải đồ vật trẻ nhỏ dễ tức giận vì
cho rằng chính đã bị bàn ghế xô đẩy, va chạm.
      2. Siêu hình (état métaphysique) tương tự như trạng thái người Âu Châu trong
thời kỳ trung cổ. Họ cho rằng tạo hoá sợ hãi những chỗ trống không. như cho rằng
mặt trăng là chiếc gươ ng soi của trời đất.
      3. Thực nghiệm (état positif) - bắt đầu nhận định được tạo vật bằng lý trí.
Tuy nhiên vào thời điểm này các triết gia cho rằng "trẻ con không phải là người
lớn thu nhỏ (un homme en raccouri)", nghĩa là tâm lý trẻ khác hẳn tâm lý người
lớn. Cũng vào thời đ iểm đó, một số nhà kỹ nghệ có cả nhà sư phạm
Kerschensteiner khuyến nghị là nên đưa ra phương pháp hoạt động để rèn luyện cho
trẻ làm quen với công việc chuyên môn. Chính J.J. Rouseau cũng muốn cho trẻ học
nghề. Quan niệm này bị tác giả của "học đường linh hoạt" cho là sai lầm vì "hoạt
động kinh tế không thể lấn át tinh thần và hoạt động chân tay không thể lấn át
trí tuệ" (lactivité économique ne primera jamais , lactivité de lesprit, ni
celle des mains celle de lintelligence).
Do đó, những nhà sư phạm vào giai đoạn những năm 30 đã khoanh vùng "hoạt động"
trong một phạm vi nhất định nhằm giúp cho trẻ "khởi động" để mở mang trí tuệ và
các khả năng tâm lý còn tiềm ẩn mà không hề thúc đẩy nó tiến xa hơn vào thế giới
thực tế để biến học đường thành nhà máy sản xuất.>
Bên cạnh đó, nhà sư phạm Plaget phân ra hai phương pháp. Một là "cá tính hóa"
nền học vấn - nghĩa là rèn luyện cá tính của từng trẻ. Ðể mở ra phương pháp này,
các nhà sư phạm phân loại hoc sinh ra từng nhóm để khai thác tính tập đoàn trong
đó mỗi cá nhân có thể phát huy bản lĩnh của mình. Hai là xã hội hoá nền học vấn
nhằm đưa ra phương pháp dạy cho học sinh chung sống với các người khác để chuẩn
bị ra đời sau này hầu hoà nhập được với xã hội mà chúng đ ang sống đồng thời qua
sự phân nhóm sẽ tạo cho chúng bản năng sinh tồn và thích nghi trong đoàn thể.
Hai phương pháp trên - nếu nhìn vào lớp vỏ bề ngoài ta có thể nghĩ rằng nó mâu
thuẫn nhau như phát huy ngược lại do nó đã phát huy được cả 2 mặt: phát huy cá
tính của từng người và phát huy tính đoàn kết trong cộng đồng. Ði sâu vào 2
phương pháp này, chúng ta còn nhiều thời gian để tìm hiểu thêm sau này - Thiết
tưởng, ngày nay trong hoàn cảnh xã hội chúng ta, hội nhập W.T.O thúc đẩy nền
kinh tế thị trường việc truy tìm lại lịch sử không phải là không đóng góp vào lộ
trình tiến hóa của nền giáo dục nhân loại nói chung và VN nói riêng.